Rồi đến cao điểm của cuộc chiến chống Mỹ, bà Căn Y tham gia lực lượng du kích địa phương, vận chuyển lương thực tiếp tế cho quân nhân. Trong những ngày băng rừng vượt suối làm nhiệm vụ, bà đã gặp, xót thương và nên vợ chồng với ông Tuol, lúc đó là quân nhân. Tuy vậy, niềm vui chồng vợ của họ chỉ tính bằng ngày bởi những năm tháng đó, nhà của ông là ngoài mặt trận, để lại bà Căn Y mỏi mòn ở nhà chồng xa lạ với một cuộc sống mới. Ông Tua, thời điểm đó là một xuân đường công tác ngay tại địa phương và cùng ở chung nhà với chị dâu. Là người có biệt tài đàn giỏi hát hay, lại là một trí thức nên ông Tua được rất nhiều cô gái trong vùng chú ý. Tuy nhiên, ông Tua lại phớt tỉnh tất thảy, không thèm chú ý đến ai, bởi lúc đó, trong lòng ông chỉ có mỗi cô gái đẹp nhất là… chị dâu mình. Ái tình và sự xốc nổi của ông Tua, những tháng ngày cô quạnh của một người con gái vừa mới lấy chồng như bà Căn Y cứ đánh đu như vậy hết ngày này sang tháng khác và cuối cùng, chuyện gì đến cũng đã đến: Họ không còn là chị dâu, em chồng. Ngạc nhiên là sau khi biết chuyện tình cảm giữa vợ và em trai mình sau đó 3 năm, ông Tuol không hề ghen tuông, giận dữ… như lẽ thường nhưng rất mực vun đắp cho tình của hai người. Ông Toul dẫn em trai Tua đến nhà ba má bà Căn Y xin ba má vợ cho em trai mình ăn nắm xôi (một lễ nghi khi gả con gái của người Pa Cô) để chính thức trở nên chồng của bà Y. “Bố mẹ Căn Y đồng ý cho em mình ăn nắm xôi và sau đó em mình trở thành người chồng thứ hai của con gái họ” - ông Tuol nhớ lại. Ông Tua hổ ngươi gãi đầu, nói “kể nghe rứa thôi chứ lúc đó sóng gió lắm” vì chuyện của họ làm xôn xang cả vùng. “Không thấy ai đồng ý cả mà chỉ thấy toàn người phản đối vì cho rằng đây là việc làm vi phạm nghiêm trọng luân thường đạo lý thôi” - ông kể. Cả hai ông bố đều không biết ai là con mình Khi ông Tua lấy bà Căn Y và sinh đứa con đầu lòng, già làng Quỳnh Đồng lập tức họp dân bản để bàn về chuyện động trời chưa từng xảy ra đối với cộng đồng dân tộc người Pa Cô từ bao đời nay. Nhiều dân bản đưa ra lý lẽ rằng, lâu nay, người PaKô dù ít xảy ra, vẫn ưng một người đàn ông lấy hai vợ, hoặc một người phụ nữ lấy hai chồng nhưng chẳng thể lấy hai anh hoặc chị em ruột khi cả hai đang còn sống. Một số người “bênh vực” với lý lẽ: Ông Tua đã trót yêu và lấy Căn Y rồi, không thể chia cách được, nhưng ông Tua phải chịu hình phạt thích đáng. Hình phạt rút cục được già làng Quỳnh Đồng đưa ra là ông Tua nộp một con lợn, một con dê để cúng Giàng và ngốc để thần thánh không bắt tội và để dân làng được ăn những con vật ấy. Sau ngày bà Căn Y sinh đứa con đầu lòng tên Xuân không lâu thì giang san hợp nhất. Ông Tuol trở về quê bươn chải mưu sinh với nương rẫy, còn ông Tua tiếp kiến sự nghiệp dạy chữ ở gần nhà. Thỉnh thoảng người dân địa phương bắt gặp cảnh bà Căn Y đi với làm với ông Tuol vài ngày, rồi lại đi cùng ông Tua vài bữa. Thời gian đầu, người dân rất ái ngại khi chứng kiến cảnh tượng cười ra nước mắt này, nhưng rồi gặp nhiều thành quen. Rồi bà Căn Y tiếp chuyện sinh ra 9 người con nữa. Quơ đều lớn lên thường ngày và khỏe mạnh. Đặc biệt, chính bà cũng không thể biết trong số 10 người con mà mình sinh ra ai là con của ông Tuol và ai là con của ông Tua. “Không còn cách nào khác, gia đình mình đã thống nhất cách gọi cho các con. Ông Tuol là anh nên được mấy đứa gọi là bố, còn ông Tua là em nên các con gọi là… chú” - bà Căn Y thành thật kể. Ấy vậy nhưng hôm gặp chúng tôi, ông Tua khoe: “Con của bố cả đó. Con Lý (Hồ Thị Lý) là con thứ hai, làm dâu ở Hồng Trung mà tuần mô cũng về thăm bố. Thằng Sơn là con út đang đi học…”. Rồi ông kể về tính cách và cuộc sống của những Lành, Lai, Lê, Kên, Sâm, Sang, Sơn…, những người con mà ông không thể biết được ai là con thực thụ của mình, hi hữu mắt ánh lên những vệt buồn như thể chúng được chất chứa trong lòng từ lâu lắm. Ôn"g nói “bố ước mơ một ngày được các con gọi một tiếng bố như chúng nó vẫn thường gọi với anh trai mình” mà chẳng thể. Chị Hồ Thị Lý, người con thứ hai, có rất nhiều điểm giống ông Tua. Cả ông Tua và chị Lý đều tin chắc họ là cha con ruột nhưng họ chẳng thể phá bỏ lời hứa với bà Y để xưng hô bố con. “Đã nhiều lần mình cầu thân cặn kẽ để mong biết được đứa nào con của mình nhưng Căn Y không thể nhớ được” - ông Tua buồn bã. Chị Lê Thị Bảo, vợ của người con trai cả thì kể rằng, những ngày mới về làm dâu, nhiều lần chị gọi ông Tua là bố nhưng ông Tua lại bảo không nên gọi vậy vì sợ ông Tuol buồn! Bà Căn Y kể rằng, từ khi bà trở nên vợ chung của hai anh em ông Tuol, chưa bao giờ bà thấy giữa hai người này xảy ra chếch mếch hay lời qua tiếng lại. Hai người chồng của bà lúc nào cũng cư xử với nhau rất hòa thuận, luôn kính trên nhường dưới. Tình cảm không hề rạn nứt của anh em ông Tuol khiến bà con trong thôn bản ngỡ ngàng. “Nếu không có tình cảm anh em thương yêu nhau rất đỗi thì gia đình mình vỡ lẽ từ lâu lắm rồi chứ không thể êm ấm đến ngày hôm nay” - bà Căn Y nói. Hỏi bí quyết, bà cười: “Mình là người vợ của hai chồng nên phải biết san sẻ tình cảm cho hai người công bằng, phải thương hai người chồng như nhau. Chỉ cần tây vị tình cảm cho một bên thì sẽ khó giữ được hạnh phúc gia đình”. Nói chuyện với chúng tôi, cả hai anh em ông Tuol đều rất hối về việc lấy chung vợ của mình. “Chuyện mình lấy vợ của anh trai là một sai lầm khó có thể lượng thứ, nhưng dù sao cũng xảy ra rồi. Chừ mình chỉ còn có thể đối xử thật tốt với anh để mong anh xóa được vết thương lòng ngày nào” - ông Tua nghẹn giọng. Ông nói, điều ông mong muốn hiện là 10 người con ngày một khôn lớn, trưởng thành và nhất là không lặp lại sai trái như cha mẹ mình. Chị Hồ Thị Dập, cán bộ UBND xã Hồng Trung cho biết: Trước khi lấy chồng, chị ở cùng làng nên biết rất rõ chuyện hai anh em cùng lấy bà Căn Y và sinh được 11 đứa con. Lần trước tiên trong đời chị thấy chuyện này và đây là trường hợp độc nhất tại A Lưới. “Thời phong kiến thì mới có chuyện này. Hiện tại, chỉ có thể người anh chết đi thì người em có thể được lấy người vợ của anh. Đây là một câu chuyện mang tính lịch sử đã rồi. Hiện tại chúng ta chỉ kể để biết và rút ra bài học chứ không nên phán xét, bởi đúng hay sai gì thì chuyện cũng đã xảy ra” - chị nó. 13 |